Đại học Thủy Lợi - 50 năm, một chặng đường

50 năm - một chặng đường

Giai đoạn 1986 đến nay: Vững bước đi lên trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta trải qua những khó khăn do hậu quả của 2 cuộc chiến tranh kéo dài, do chính sách cấm vận của các nước thù địch với Việt Nam. Các trường Đại học kỹ thuật rất khó khăn trong công tác tuyển sinh, số thí sinh đăng ký thi vào Trường Đại học Thủy Lợi rất thấp, có năm chỉ tuyển được khoảng 100 sinh viên. Nhà trường đứng trước nguy cơ phải sát nhập hoặc giải thể theo tinh thần Nghị quyết 73/TTg của Thủ tướng chính phủ. Đảng ủy, Ban Giám hiệu và toàn thể cán bộ, giảng viên của Trường đã từng bước vượt qua thử thách, khó khăn đưa Nhà trường vững bước đi lên.

Dưới ánh sáng đường lối giáo dục, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo của Trường Đại học Thủy lợi đã đạt được những thành quả to lớn. Nhà trường đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để ổn định và phát triển. Những lúng túng ban đầu trong các hoạt động để thích nghi với nền kinh tế thị trường, cùng với sự eo hẹp về kinh phí cần thiết để tồn tại, phát triển và những khó khăn về đời sống, từng bước được tháo gỡ bằng những hướng đi đúng đắn và bằng những nỗ lực, phấn đấu vươn lên của tập thể cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên trường Đại học Thủy lợi. Điều đó đã giúp trường có những chuyển biến tích cực cả về quy mô chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, sớm hòa nhập với trào lưu đổi mới và giành được những kết quả quan trọng trong việc thực hiện 3 chương trình hành động của ngành Đại học- Trung học chuyên nghiệp giai đoạn 1987-1990, 5 chương trình mục tiêu của kế hoạch 1991-1995 và chương trình hành động triển khai thực hiện NQTW2 (khóa 8) về “Định hướng chiến lược phát triển Giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”.

Những thành tựu trong sự đổi mới của Trường được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

            1. Về đào tạo:- Tiểu ban cải cách giáo dục của Nhà trường đã xây dựng thành công nhóm ngành học mới trên cơ sở kế thừa các ngành truyền thống. Năm 1995 với việc sát nhập 3 Bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi thành Bộ NN & PTNT đã đưa sự nghiệp phát triển thủy lợi nước ta lên một tầm cao mới: phát triển bền vững trong một môi trường Đất - Nước - Rừng, gắn kết hữu cơ với nhau trong một nền nông nghiệp sinh thái. Nhạy bén trước tình hình và tận dụng thời cơ mới, Đảng ủy , Ban Giám hiệu chủ trương tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 2 để tố chức lại hệ thống các ngành học theo hướng đào tạo đa ngành liên quan đến hệ thống, tổng hợp, toàn diện và bền vững thuộc lĩnh vực tài nguyên nước. Nhà trường đã trình hai Bộ duyệt chương trình 9 ngành với 21 chuyên ngành nhằm phủ kín nội dung hoạt động về kỹ thuật tài nguyên nước của thực tiễn nước ta và luật tài nguyên nước mới ra đời. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của Nhà trường đã và đang bắt đầu mang tính liên ngành, đa lĩnh vực.

         Chương trình học được đổi mới, bổ sung nhiều môn học mơi như: Viễn thám, Môi trường, Lý thuyết hệ thống tự động hóa, Tin học ứng dụng, Kinh tế đầu tư, Cấp thoát nước, Xử lý nước thải, Kiến trúc...tăng cường một số môn Khoa học xã hội nhân văn như: Xã hội học, pháp luật...Năm 2000,  mở thêm ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng, năm 2001 mở ngành Công nghệ thông tin, năm 2003 mở ngành Kỹ thuật Bờ biển.

            Tại Hội nghị Giáo dục Đại học tháng 10/2001, Bộ trưởng Bộ Giáo dục -Đào tạo đánh giá Trường Đại học Thủy Lợi là: “một trường hợp điển hình về việc xây dựng các ngành nghề đào tạo, phủ kín lĩnh vực tài nguyên nước, nhằm đào tạo cán bộ từ khâu quy hoạch, quản lý, khai thác sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên nước”.

Chương trình đào tạo Đại học được Nhà trường đặc biệt quan tâm, năm 2003 đã hoàn thành chương trình khung với 270 đơn vị học trình cho các ngành, năm 2004 xây dựng xong đề cương chi tiết môn học và bắt đầu thực hiện từ năm học 2004-2005.

            -Thực hiện Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Năm 2004 Ban xây dựng chiến lược phát triển trường thành lập; Nhà trường đã chủ động xây dựng chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2006- 2020 và tầm nhìn 2030 phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Chiến lược đổi mới cơ bản toàn diện Trường Đại học Thuỷ lợi đã mang lại cho cán bộ, giảng viên một môi trường thuận lợi để có thể phát huy năng lực, trí tuệ của mình cho sự nghiệp phát triển Nhà trường, tạo cho sinh viên một môi trường học tập, nghiên cứu hiện đại, được trang bị những kỹ năng cần thiết để tiến thân, lập nghiệp, thích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế. Từ năm học 2007-2008 đào tạo theo học chế tín chỉ, chương trình đào tạo được rút ngắn từ 5 năm xuống còn 4 năm (145 tín chỉ) đối với hệ Đại học và từ 3 năm xuống còn 2.5 năm (98 tín chỉ) đối với hệ Cao đẳng. Nhà trường đã đưa các môn Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bình luận và phê bình, kỹ năng học tập và làm việc theo nhóm vào chương trình đào tạo. Tên ngành học và chương trình đào tạo được đổi mới theo chương trình đào tạo của Hoa Kỳ và một số nước tiên tiến khác trên Thế giới. Ngoài các ngành cũ được nâng cấp và đổi tên, năm 2007 mở thêm các ngành: Công nghệ kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật điện, Quản trị kinh doanh, Kế toán, Giảm nhẹ thiên tai, Kỹ thuật Biển. Năm 2008 mở lớp chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước hợp tác với trường Đại học Bang Colorado, Hoa Kỳ (Colorado State University).

-Đào tạo trên và sau Đại học luôn được đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng, gắn đào tạo với địa chỉ sử dụng. Luận văn tốt nghiệp xuất phát từ yêu cầu thực tế, gắn với đề tài khoa học mang tính cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ngành và đất nước. Từ năm 2004, Trường đã được Bộ cho phép đào tạo 13 chuyên ngành Tiến sỹ, 7 ngành Thạc sỹ. Các lớp bồi dưỡng chuyên đề, hội thảo được mở thường xuyên, mỗi năm có hàng trăm cán bộ, kỹ sư tham dự.

-Trường đại học Thủy lợi đã mở rộng quy mô đào tạo ở mức tương đối ổn định ở tất cả các bậc học: Cao đẳng, Đại học, trên Đại học (Thạc sỹ, Tiến sỹ) và ở các địa bàn trong toàn quốc. Chất lượng đào tạo được coi trọng và giữ vững đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường theo định huớng Xã hội chủ nghĩa. Nhà trường coi chất lượng đào tạo là uy tín bảo đảm sự phát triển của Nhà trường; vì vậy Trường đã có những biện pháp khuyến khích vật chất, tinh thần đối với các Bộ môn, cá nhân viết giáo trình, dịch giáo trình nhập khẩu, đổi mới phương pháp giảng dạy, tham gia nghiên cứu khoa học; hướng dẫn thi sinh viên thi Olympic các môn học, sinh viên NCKH.

Năm 1997 Trung tâm ĐH1 tại Thành phố Hồ Chí Minh một mô hình 3 kết hợp trình độ cao được Bộ Nông nghiệp & PTNT quyết định nâng cấp thành Cơ sở 2 - Đại học Thuỷ lợi đánh dấu một bước phát triển mới trong công tác đào tạo và trở thành trung tâm đào tạo cán bộ có trình độ đại học, trên đại học cho các tỉnh phí Nam đáp ứng được nhu cầu của các tỉnh về đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước. Trung tâm ĐH2 tại Phan Rang, Ninh Thuận từ năm học 2007-2008 cũng được Nhà trường chiêu sinh đào tạo hệ chính quy trình độ Cao đẳng.

2. Về Khoa học công nghệ:

Thực hiện NQ26/NQTW của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Nghị định 35 HĐBT về công tác quản lý khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất của Trường đại học Thủy lợi có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, góp phần tích cực cho sự phát triển của ngành phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp - Nông thôn.

Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều tập trung vào những chương trình trọng điểm của Quốc gia, của ngành, những dự án quan trọng có tính chất lâu dài như vùng đồng bằng sông Cửu long, vùng đồng bằng sông Hồng, khu vực miền Trung, vùng Tây nguyên, các dự án của WB, ADB đầu tư tại Việt nam.

Song song với công tác nghiên cứu khoa học, trường Đại học Thủy lợi đã tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất ở các địa bàn trong toàn quốc. Củng cố ổn định các cơ sở sản xuất đã có, thành lập đơn vị mới các Trung tâm nghiên cứu khoa học, các Viện lần lượt ra đời: Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật thủy lợi (năm 1990), Trung tâm Thủy văn ứng dụng và kỹ thuật môi trường (năm 1993), Trung tâm Khoa học và Công nghệ cơ học máy thủy lợi (năm 1994),Văn phòng Tư vấn thẩm định thiết kế và giám định chất lượng công trình (năm 1998), Công ty Tư vấn & CGCN (năm 2000); Viện Thủy Lợi và Môi trường (2006); Viện Kỹ thuật công trình (2007); Viện kỹ thuật tài nguyên nước (2007). Đã ký kết và thực hiện hàng trăm công trình phục vụ sản xuất, số đề tài tăng nhanh, đa dạng và phong phú, đặc biệt là các đề tài cấp Nhà nước và đề tài trọng điểm cấp Bộ. Khoa học công nghệ phục vụ sản xuất đã tạo nên sự gắn kết trực tiếp giữa đào tạo với thực tiễn sản xuất, nâng cao năng lực của thầy và trò, đồng thời tạo ra nguồn thu bổ sung để đầu tư cho cơ sở vật chất, các điều kiện làm việc và mang lại phúc lợi tập thể để cải thiện một phần đời sống của giáo viên, công nhân viên và sinh viên.Chỉ tính riêng trong 5 năm từ 2003 đến 2007 trường đã thực hiện 132 đề tài NCKH các cấp; doanh thu từ các hợp đồng tư vấn, thi công phục vụ sản xuất đạt trên 391 tỷ đồng.

3. Hoạt động hợp tác Quốc tế về khoa học ngày càng được đẩy mạnh và mở rộng với các trường Đại học của các nước, các tổ chức Quốc tế đã thu được nhiều kết quả tốt.

Tháng 8/1988, sau chuyến đi dự Hội nghị Quốc tế tổ chức tại Thái Lan của đồng chí Hiệu trưởng, Trường Đại học Thủy lợi được kết nạp trở thành thành viên thứ 16 của ESCAP (Tổ chức giáo dục của các nước khu vực Châu á - Thái Bình Dương), cũng từ đó Nhà trường đã tạo lập được mối quan hệ với Ấn Độ, Hà Lan, Australia và Thái Lan.

Thực hiện dự án VIE 88/007-tăng cường khả năng đào tạo trường Đại học Thuỷ lợi đạt kết quả tốt đã tạo thế và lực cho trường mở rộng quan hệ hợp tác về đào tạo KHCN với nhiều trường đại học trên thế giới.

Tháng 4/1995, Nhà trường đã thiết lập lại quan hệ với một số trường Đại học, cơ quan thủy lợi của Trung Quốc, từ đó đến nay đã có nhiều cuộc trao đổi, học tập lẫn nhau giữa Đại học Thủy Lợi và các trường Đại học, các cơ quan của Trung Quốc, trong đó Đại học Vũ Hán đã nhận đào tạo cán bộ giảng dạy cho Nhà trường, nhiều giảng viên của Trường được đào tạo trình độ tiến sỹ, thạc sỹ tại ĐH Vũ Hán.

Năm 1996, đã xây dựng và ban hành thực hiện “Quy định quản lý hoạt động đối ngoại”, vì vậy tuy triển khai hoạt động đối ngoại nhiều và phức tạp nhưng đã đi vào nề nếp.

Dự án: “Hỗ trợ tăng cường năng lực đào tạo cho trường Đại học Thuỷ lợi” do chính phủ Đan Mạch tài trợ và Dự án “Xây dựng ngành đào tạo kỹ thuật Bờ biển” do chính phủ Hà Lan tài trợ đã triển khai, có hiệu quả và đúng tiến độ. Với sự hợp tác này, Trường Đại học Thủy lợi đã tiếp nhận được những tiến bộ khoa học công nghệ, tổ chức các lớp bồi dưỡng, hội thảo tại trường và cử hàng trăm cán bộ giảng dạy, quản lý đi học tập, tham dự  Hội nghị khoa học, hội thảo ở các nước để nâng cao trình độ về chuyên môn, tầm nhìn, giao tiếp Quốc tế và ngoại ngữ. Dự án đã giúp trường xây dựng và đưa vào hoạt động phòng thí nghiệm thủy lực Tổng hợp, thành lập khoa Kỹ thuật Bờ biển.

Đa dạng các hình thức hợp tác quốc tế trường đã ký biên bản ghi nhớ với các trường đại học của Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Singapore, Lào, Ấn Độ, Úc, Italia…

4. Đại học Thủy lợi hàng năm còn tổ chức tốt phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên với 100 đến 150 báo cáo khoa học, trong đó có từ 10 đến 15 đề tài NCKHSV được xếp loại giỏi và được khen thưởng. Là một trong những trường sáng lập Olimpic Cơ học, phong trào thi Olimpic của trường đã trở thành truyền thống hàng năm. Các đội tuyển Olimpic của trường như: Cơ lý thuyết, Sức bền vật liệu, Cơ học đất, Thủy lực, Cơ kết cấu, Toán, Tin học...đoạt nhiều giải cao trong các kỳ thi Olimpic Quốc gia. Nhiều đồ án tốt nghiệp của sinh viên dự thi đã đạt giải Loa thành.

5. Xây dựng cơ sở vật chất: Nhà trường đã có những bước đi thích hợp xây dựng và cải tạo, nâng cấp được nhiều cơ sở giảng đường tổng hợp giảng dạy theo học chế tín chỉ, trang bị máy chiếu phục vụ cho học tập và giảng dạy, nhà ở của sinh viên được cải tạo thành những khu khép kín, đường xá, điện nước được nâng cấp khang trang. Thư viện của Nhà trường khang trang  với hàng vạn sách, giáo trình tham khảo và hàng chục máy tính nối  mạng phục vụ cho nghiên cứu, học tập. Khu giáo dục thể chất gồm sân bóng đá, bể bơi, nhà thi đấu đa năng đáp ứng nhu cầu về rèn luyện thể chất của cán bộ, giáo viên và sinh viên. Các phòng thí nghiệm đã từng bước đạt tiêu chuẩn Quốc gia và mang tính đặc thù của một trường đầu ngành về lĩnh vực tài nguyên nước. Cơ sở 2 của Trường được xây dựng khang trang to đẹp ngay gần trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh gồm: giảng đường, thư viện, khu Ký túc xá sinh viên; cơ sở Bình Dương được nâng cấp xây dựng và đưa vào sử dụng khu giảng đường, khu Ký túc xá đáp ứng đủ nhu cầu cho sinh viên ăn, ở và học tập. Nhà trường đang triển khai xây dựng ký túc xá tại Hà Nội. Triển khai thực hiện dự án quy hoạch, mở rộng Trường Đại học Thủy Lợi tại Chương Mỹ – Hà Nội và cơ sở 2 tại Bình Dương.

6. Xây dựng và phát triển đội ngũ: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, viên chức giỏi về chuyên môn nghiệp vụ là yếu tố quyết định sự thành công của Nhà trường. Nhận thức đúng điều đó, trường đã coi trọng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ viên chức, đặc biệt là đội ngũ giảng viên. Trong công tác xây dựng đội ngũ, trường chú trọng toàn diện cả 3 khâu tuyển dụng, đào tạo và sử dụng. Tính đến tháng 3/2009, tổng số cán bộ viên chức của trường là 953 người; trong đó giảng viên là 440 người hầu hết đều đạt chuẩn theo yêu cầu. Số giảng viên có trình độ giáo sư phó giáo sư 49 người, có học vị tiến sĩ 92 người, thạc sĩ 215 người. Đến nay đã có 3 gỉang viên được phong danh hiệu NGND, 73 giảng viên được phong danh hiệu NGUT.

7. Công tác thi đua khen thưởng dần đi vào nền nếp, phong trào thi đua : Lao động giỏi, giảng dạy giỏi được duy trì thường xuyên hàng năm. Nhiều Giảng viên của Trường được nâng lương và tặng Huy chương trước niên hạn. Với những thành tích đã đạt, Trường Đại học Thuỷ lợi đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Ba (1989); Hạng Nhì (1994); Hạng Nhất (1999), Huân chương lao động hạng Ba cho hoạt động Công đoàn 1999; Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới 2000, Huân chương Hồ Chí Minh 2004, Huân chương lao động hạng Nhất do Chính phủ Lào trao tặng năm 2000, năm 2008, nhận cờ thi đua của Bộ Nông nghiệp & PTNT; Bộ Giáo dục& Đào tạo, các đơn vị và cá nhân trong Trường đã được tặng thưởng 26 Huân chương Lao động, 47 Bằng khen Chính phủ và hàng trăm Bằng khen của các Bộ, của địa phương.

Điều đáng ghi nhận trong thời kỳ này, ngoài những thành tựu đã đạt được, do thực hiện công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo mang lại, Trường Đại học Thủy lợi đã xác định rõ ràng, có căn cứ khoa học và thực tiễn con đường phát triển lâu dài của Nhà trường trong những năm thập kỷ đầu của thế kỷ 21, phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn- hội nhập quốc tế. Trường đã xây dựng và bước đầu thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển với mục tiêu trở thành một trong 10 trường Đại học hàng đầu của Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Tạo dựng được danh hiệu “Đại học Thủy Lợi Việt Nam” có uy tín, quan hệ quốc tế rộng rãi đa phương, đa dạng đủ sức cạnh tranh, hợp tác bình đẳng với các nước trong khu vực cũng như thế giới và thực hiện chiến lược phát triển Trường, phấn đấu chủ động hội nhập.


                                NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

            Từ thực tiễn 50 năm xây dựng và phát triển của trường Đại học Thuỷ lợi đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới đến nay có thể rút ra một số kết luận cần thiết như là những bài học  kinh nghiệm làm cơ sở cho sự phát triển của trường trong giai đoạn tới. Những bài học đó là:

          1.Luôn kiên trì thực hiện nguyên lý phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước:” Học đi đôi với hành, giảng dạy gắn liền với thực tiễn sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình hoạt động của Nhà trường qua từng thời kỳ, đồng thời vận dụng một cách sáng tạo linh hoạt trong điều kiện cụ thể của Nhà trường. Đại học Thuỷ lợi có nét đặc trưng riêng của một trường đại học kỹ thuật gắn kết chặt chẽ giữa  nhà trường với  xã hội, giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất. Từ những hoạt động thực tiễn đã thường xuyên xem xét đánh giá để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo của Nhà trường.

           2. Đổi mới là tất yếu khách quan trong quá trình phát triển nhưng đổi mới  phải đúng hướng phù hợp với quy luật phát triển trên cơ sở thực tiễn, bảo đảm tính kế thừa, phát huy truyền thống,mới bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững. Trong đổi mới trường phải luôn tìm ra những cái chưa hợp lý, chưa phù hợp để điều chỉnh khắc phục. Đồng thời luôn tìm ra cái mới, cái tiên tiến để bổ sung cập nhật và xây dựng về chương trình, nội dung, phương pháp và các điều kiện khác của công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước .  

          3.Nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất không những chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà trường mà còn là nhu cầu thúc đẩy sự phát triển của Nhà trường. Vì thông qua các hoạt động khoa học công nghệ, các dịch vụ chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất mà tái tạo cho Nhà trường một nguồn sinh lực mới, một khả năng mới cho sự phát triển mạnh mẽ. Bảo đảm cho công tác đào tạo của nhà trường có những kiến thức thực tế; nhiều đề tài đồ án, luận án tốt nghiệp có chất lượng. Tăng thêm kinh phí bổ sung cho đào tạo và xây dựng cơ sở vật chất.

          4. Đội ngũ thày giáo là nguồn lực chủ yếu quyết định đến chất lượng đào tạo; đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc tổ chức khai thác sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong trường. Do đó phải luôn quan tâm chăm lo đến việc xây dựng đội ngũ, trên cơ sở quy hoạch định kỳ để có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bổ sung kịp thời. Trong công tác xây dựng đội ngũ trường đã chú trọng toàn diện cả 3 khâu tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng. Nhà trường đã chủ động xây dựng những qui định tiêu chuẩn cho giảng viên, cán bộ quản lý; quan tâm đến công tác đào tạo về chuyên môn, ngoại ngữ nhất là cán bộ giảng viên trẻ, chủ yếu khuyến khích đi đào tạo ở nước ngoài.

             5.Dân chủ hoá, quy trình hoá, công khai hoá, pháp quyền hoá đã sớm được Nhà trường  thực hiện coi đó là một nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới. Xây dựng và  hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý cũng như quy trình thực hiện cải cách hành chính của Nhà trường từ nhiều năm nay đều được lấy ý kiến rộng rãi và công khai trong toàn trường. Đó chính là nền tảng vững chắc cho sự ổn định trong quá trình phát triển của Nhà trường.

      Luôn luôn giữ gìn khối đoàn kết nhất trí trên cơ  sở bảo đảm hạt nhân lãnh đạo của Đảng uỷ, sự quản lý điều hành thống nhất tập trung của Ban giám hiệu và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của mọi thành viên trong nhà trường thông qua sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Hội cựu chiến binh. Thực  hiện dân chủ hoá đi đôi với kỷ luật kỷ cương; công bằng cả về quyền lợi và nghĩa vụ.

         6. Hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan của sự phát triển. Với chính sách mở cửa của Nhà nước, trường Đại học Thuỷ lợi đã thiết lập được nhiều mối quan hệ hợp tác song phương với các trường Đại học, các công ty, các tổ chức quốc tế với nhiều hình thức đa dạng. Vì vậy nhà trường đã tranh thủ được sự giúp đỡ quốc tế trong đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý.

         7. Với quan điểm” Người học là trung tâm của quá trình đào tạo” cho nên phải hết sức quan tâm đến công tác sinh viên, phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên. Tôn trọng, lắng nghe những nguyện vọng chính đáng của sinh viên; hướng sinh viên vào những hoạt động văn hoá - thể thao – khoa học – xã hội nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trẻ phát triển toàn diện về trí - thể - mỹ.

 

 


Các nội dung cũ hơn

Tin mới - nóng

Tản mạn

Bài thơ: Về trường Thủy Lợi
Nhân dịp 50 năm ngày thành lập trường Đại học Thủy lợi 1959-2009 ...

Bài thơ: Nơi thắp sáng ước mơ
Nhà thơ Trương Minh Phố, tác giả đạt Giải Nhất trong cuộc thi viết "50 năm - Một mái trường" ...

Thôn Dùm
Ai về tới xã Nghĩa Phương Qua đền Suối Mỡ thơm hương thì dừng! ...

Tin tức, sự kiện

  1. Thư cảm ơn nhân dịp Lễ Kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Thủy Lợi
  2. Ngày hội lớn và hoạt động của sinh viên Đại học Thủy Lợi.
  3. Đại Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Đại học Thủy Lợi
  4. “Giao lưu với anh hùng lao động Lê Văn Kiểm và sinh viên Đại Học Thủy Lợi”
  5. Chùm ảnh các cựu sinh viên, bạn bè về thăm Nhà trường nhân dịp 50 năm.

Con người - những dấu ấn

  1. Văn phòng Quốc hội có một “Nhà Thủy lợi”
  2. Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền: MỘT ĐỜI VÀ MỘT NGHỀ, VỚI CẢ TẤM LÒNG...
  3. Nhớ mãi nhà giáo - nhà khoa học Nguyễn Văn Cung
  4. Đại học Thủy lợi có Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm - Kỳ cuối
  5. Đại học Thủy lợi có Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm -Kỳ 3

Quảng cáo